13/08/2026
Ở Đà Lạt tồn tại một biểu tượng của đỉnh cao tri thức Công Giáo: GIÁO HOÀNG HỌC VIỆN
Ngược dòng thời gian về cuối thập niên 1950, lịch sử của Học viện bắt đầu bằng một bước ngoặt nhuốm màu thời cuộc. Sau biến cố chính trị tại Trung Hoa đại lục, các linh mục Dòng Tên (Jesuits) bị trục xuất và tản mát khắp nơi. Tòa Thánh đã ủy thác cho các tu sĩ Dòng Tên thiết lập một học viện đỉnh cao.
Năm 1958: Ngôi trường khai sinh với cái tên ban đầu: Giáo hoàng Chủng viện Mẫu Tâm Vô Nhiễm, mượn tạm cơ sở gần Đồi Cù.
Năm 1959: Định mệnh gọi tên khi Khâm sứ Tòa Thánh đổi tên trường thành Giáo hoàng Học viện Thánh Piô X. Nâng tầm thành cơ sở đào tạo tương đương các đại học Giáo hoàng tại Rome.
Năm 1961, trên ngọn đồi rộng gần 8 héc-ta tại số 13 Đinh Tiên Hoàng, viên đá đầu tiên được đặt xuống. Người thổi hồn vào công trình này là Kiến trúc sư Tô Công Văn, một giáo sư lừng danh của Đại học Kiến trúc Sài Gòn thời bấy giờ.
Thay vì chọn phong cách Gothic hay Baroque cổ điển kiểu châu Âu, ông đã táo bạo đưa vào đây tinh thần của kiến trúc hiện đại, kết hợp hài hòa với triết lý tôn trọng thiên nhiên. Nhìn từ trên cao, toàn bộ quần thể học viện hiện lên như một đóa hoa ba cánh khổng lồ:
Nhụy hoa: Là trung tâm của đời sống tâm linh — Nguyện đường (Chapel). Ba cánh hoa: Tương ứng với 3 khối nhà 5 tầng kiên cố, bao gồm khu học tập, khu nội trú và khu sinh hoạt. Nơi đây không phải là một tu viện khép kín, mà là một không gian mở, đón nhận ánh sáng và tri thức.
Trong suốt gần hai thập kỷ hoạt động rực rỡ (1963 - 1975), Giáo hoàng Học viện là nơi quy tụ những bộ óc vĩ đại nhất của Giáo hội Việt Nam. Các giáo sư giảng dạy tại đây được mời từ khắp nơi trên thế giới: Pháp, Ý, Tây Ban Nha, Canada... với những tiêu chuẩn học thuật khắt khe nhất.
Nơi đây đã đào tạo ra gần 400 linh mục. Trong đó, có đến 13 vị sau này trở thành Giám mục, Tổng giám mục và Hồng y nắm giữ các vai trò cốt cán của Giáo hội Công giáo Việt Nam (như Hồng y Nguyễn Văn Nhơn, Đức cha Nguyễn Sơn Lâm...). Họ không chỉ học thần học, mà còn được trui rèn về triết học, khoa học xã hội và cổ ngữ, biến học viện thành một "trung tâm trí thức đỉnh cao" vùng cao nguyên.
Lịch sử luôn vận động với những khúc quanh không thể lường trước. Sau tháng 4 năm 1975, toàn bộ các giáo sư và thừa sai nước ngoài phải rời Việt Nam. Học viện cố gắng duy trì thêm một vài năm dưới sự hướng dẫn của các nhân sự bản xứ, trước khi chính thức khép lại sứ mệnh tôn giáo vào năm 1978.
Theo dòng chảy của lịch sử khu đất và tòa nhà đã được bàn giao cho chính quyền. Công năng bên trong đã thay đổi để phục vụ cho mục đích giáo dục, khoa học và văn hóa của thời đại mới, nhưng hình bóng kiến trúc khối nhà 5 tầng năm xưa vẫn còn đó.
Đặc biệt vẫn có thể tìm thấy tấm biển lưu niệm bằng đá khắc chữ Latinh ở góc tường, minh chứng cho ngày đặt viên đá đầu tiên (01/08/1961) bởi Đại diện Tòa thánh Mario Brini. Tấm bia đá cổ bằng tiếng Latinh vẫn lặng lẽ đọng lại ký ức của một thời hoàng kim đã hóa thạch vào lịch sử