01/10/2026
BỐN KIÊN ĐỊNH - GIỮ VỮNG PHƯƠNG HƯỚNG, MỞ ĐƯỜNG CHO ĐỔI MỚI VÀ VƯƠN MÌNH
Một quốc gia muốn tiến xa không chỉ cần biết rõ điểm đến, mà còn phải xác định chính xác những giá trị cốt lõi không được đánh mất trên hành trình ấy. Đối với Việt Nam, yêu cầu này càng trở nên thiết yếu khi đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với thời cơ rộng mở song hành cùng những thách thức chưa từng có.
Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng ta nêu rõ: “Kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về đường lối đổi mới; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công công cuộc đổi mới; kiên định các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng”.
BÀI 1: BỐN KIÊN ĐỊNH LÀ MỘT CHỈNH THỂ THỐNG NHẤT
“Bốn kiên định” được xác định trong Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng không nên nhìn nhận như bốn mệnh đề tách rời, càng không phải những nguyên tắc cứng nhắc. Đó là một chỉnh thể có mối quan hệ hữu cơ: Kiên định nền tảng tư tưởng của Đảng để giữ vững phương hướng; kiên định mục tiêu cách mạng để xác định đích đến; kiên định đổi mới nhằm tạo động lực phát triển; kiên định các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng để bảo đảm năng lực lãnh đạo và tổ chức thực thi. Quan điểm này đồng thời được đặt trong mối liên hệ mật thiết với tự chủ chiến lược, đổi mới mô hình phát triển; lấy phát triển để ổn định, ổn định để thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững, nâng cao đời sống, hạnh phúc của Nhân dân và bảo vệ vững chắc Tổ quốc.
Kiên định nền tảng không phải là đóng khung tư duy
Kiên định không đồng nghĩa với bất biến; đổi mới không đồng nghĩa với xa rời nền tảng. Trái lại, giữa kiên định và đổi mới tồn tại mối quan hệ biện chứng sâu sắc. Kiên định tạo ra định hướng để quá trình đổi mới không chệch đường; còn đổi mới giúp những giá trị được kiên định có khả năng thích ứng với thực tiễn, tiếp tục phát huy sức sống trong điều kiện mới. Đây cũng chính là một trong những vấn đề phương pháp luận quan trọng nhất khi nhận thức và vận dụng “Bốn kiên định” trong kỷ nguyên mới.
Điểm đầu tiên trong “Bốn kiên định” của Đại hội XIV thể hiện sự phát triển đáng chú ý về mặt tư duy: Không chỉ “kiên định” mà còn “vận dụng và phát triển sáng tạo” chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cùng lý luận về đường lối đổi mới. Cách đặt vấn đề này cho thấy một yêu cầu kép: Một mặt, nền tảng tư tưởng giữ vai trò định hướng phương pháp nhận thức và hành động, giúp xác định những nguyên tắc, mục tiêu căn bản cùng phương hướng phát triển không thể tùy tiện thay đổi. Mặt khác, nền tảng ấy chỉ thực sự phát huy sức sống khi được vận dụng phù hợp, bổ sung, phát triển từ thực tiễn và được kiểm nghiệm bằng hiệu quả thực tế. Đây chính là ranh giới phân biệt giữa kiên định có nguyên tắc với bảo thủ, giáo điều.
Một chủ trương phù hợp trong điều kiện lịch sử này có thể cần được cụ thể hóa khác đi khi bối cảnh kinh tế - xã hội, khoa học - công nghệ và quan hệ quốc tế biến chuyển. Một phương thức tổ chức từng hiệu quả có thể cần điều chỉnh khi xuất hiện các mô hình quản trị mới. Tương tự, một phương thức truyền thông từng thành công có thể không còn đáp ứng đủ yêu cầu khi môi trường thông tin đã chuyển dịch mạnh sang nền tảng số.
Tuy nhiên, thay đổi phương thức không đồng nghĩa với việc thay đổi nền tảng.
Chính vì vậy, nếu chỉ nhấn mạnh “kiên định” mà coi nhẹ yêu cầu “vận dụng và phát triển sáng tạo”, sẽ rất dễ biến một nguyên tắc mang tính động thành một tư duy tĩnh. Ngược lại, nếu chỉ tập trung vào “đổi mới” mà thiếu đi hệ quy chiếu nền tảng, các nỗ lực đổi mới có nguy cơ trở thành những thay đổi rời rạc, mất phương hướng.
Nghị quyết Đại hội XIV lồng ghép “lý luận về đường lối đổi mới” vào chính cấu trúc nhận thức đó. Những tổng kết từ 40 năm đổi mới được nhìn nhận như quá trình phát triển nhận thức lý luận, gắn kết lý luận với thực tiễn, kế thừa với bổ sung, ổn định với đổi mới. Do đó, nhận thức sâu sắc hơn về kiên định chính là: Kiên định các giá trị, mục tiêu có tính nguyên tắc, đồng thời không ngừng đổi mới phương pháp để hiện thực hóa chúng trong điều kiện mới.
Đó không phải là sự lựa chọn giữa “giữ” hay “đổi”, mà là khả năng kết hợp hài hòa giữa việc bảo tồn cái cốt lõi và kiến tạo cái mới.
Kiên định mục tiêu để đổi mới không mất phương hướng
Nếu nền tảng tư tưởng giải quyết câu hỏi “dựa vào đâu để nhận thức và hành động”, thì kiên định mục tiêu trả lời cho câu hỏi “đi về đâu”. Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là mục tiêu xuyên suốt được Đại hội XIV tiếp tục khẳng định. Cùng với đó, Nghị quyết đã xác định các mục tiêu phát triển cụ thể đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, gắn kết nhiệm vụ chiến lược của đất nước với hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Trong thời đại ngày nay, độc lập dân tộc không chỉ là bảo vệ chủ quyền địa giới, mà còn là nâng cao năng lực tự chủ chiến lược, tự chủ công nghệ và phát huy sức mạnh nội sinh quốc gia.
Trong bối cảnh mới, kiên định mục tiêu không dừng lại ở việc nhắc lại các mệnh đề. Yêu cầu quan trọng hơn là phải chuyển hóa mục tiêu thành những tiêu chí phát triển cụ thể. Một nền kinh tế có năng lực tự chủ cao phải được xây dựng trên nền tảng năng suất, khoa học - công nghệ, sức mạnh doanh nghiệp và chất lượng nguồn nhân lực.
Một xã hội phát triển bền vững phải được đo lường bằng chất lượng cuộc sống, khả năng tiếp cận dịch vụ thiết yếu, môi trường sống và cơ hội phát triển của người dân. Một quốc gia muốn nâng cao năng lực tự chủ chiến lược phải đồng thời củng cố sức mạnh nội sinh về thể chế, công nghệ, nhân lực và năng lực cạnh tranh.
Theo đó, mục tiêu không phải là một điểm đến mang tính khẩu hiệu, mà phải trở thành chuẩn mực để lựa chọn chính sách, phân bổ nguồn lực và đánh giá kết quả. Đây cũng là điểm giao giữa “Bốn kiên định” và yêu cầu phát triển thực tiễn. Kiên định mục tiêu không có nghĩa giữ nguyên mọi cách làm cũ. Trái lại, chính mục tiêu dài hạn đòi hỏi phải liên tục tìm kiếm những phương thức mới, hiệu quả hơn để từng bước tiến gần hơn đến đích đến đó.
Kiên định đổi mới - Yêu cầu tất yếu của phát triển
Trong bốn nội dung, điểm thứ ba thể hiện rõ nét nhất tính biện chứng: “Kiên định đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới”. Tại đây xuất hiện một sự kết hợp tưởng chừng đối lập: Đã “kiên định” tại sao lại “đổi mới”? Thực chất, đây là hai mặt của một yêu cầu thống nhất. Khi thực tiễn liên tục vận động, một đường lối phát triển muốn giữ nguyên giá trị buộc phải có năng lực tự điều chỉnh, tự hoàn thiện. Đổi mới không phải là sự phủ định sạch trơn quá khứ, mà là quá trình kế thừa, bổ sung và phát triển dựa trên cơ sở tổng kết thực tiễn cùng nghiên cứu lý luận.
Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh yêu cầu xử lý tốt các mối quan hệ giữa kế thừa, bổ sung và phát triển; giữa kiên định và đổi mới; giữa tổng kết thực tiễn với nghiên cứu lý luận, hoạch định đường lối và tổ chức thực hiện. Đây chính là luận đề trung tâm: Kiên định là điều kiện để đổi mới đúng hướng; đổi mới là phương thức để sự kiên định không rơi vào trì trệ.
Trong thực tiễn, tinh thần này được thể hiện rõ qua yêu cầu chuyển đổi mô hình tăng trưởng, phát triển kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, chuyển dịch năng lượng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cũng như thúc đẩy khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Nghị quyết Đại hội XIV xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là các động lực chính của mô hình tăng trưởng mới, đồng thời nhấn mạnh việc phát triển các lực lượng sản xuất mới. Như vậy, đổi mới không phải một mảng việc tách rời, mà nằm ngay trong logic nội tại của “Bốn kiên định”.
Kiên định nguyên tắc để năng động mà không tùy tiện
Nếu nền tảng định hình phương hướng, mục tiêu xác định đích đến, đổi mới tạo ra động lực, thì các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng đóng vai trò là cơ chế bảo đảm cho toàn bộ quá trình diễn ra thống nhất, kỷ luật và hiệu quả. Nội dung này mang ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, đổi mới quản trị, khuyến khích sự sáng tạo và tăng tính chủ động của các cấp, các ngành. Việc kiên định nguyên tắc tập trung dân chủ không hề đối lập hay cản trở tinh thần đổi mới, mà chính là bệ đỡ vững chắc để bảo vệ cán bộ năng động, dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung.
Đổi mới càng mạnh mẽ càng đòi hỏi nguyên tắc phải rõ ràng. Phân quyền không đồng nghĩa với buông lỏng trách nhiệm; khuyến khích sáng tạo không đi cùng với sự tùy tiện; tăng quyền chủ động không làm giảm yêu cầu kiểm tra, giám sát; dám nghĩ, dám làm phải luôn gắn liền với trách nhiệm trước tổ chức, pháp luật và lợi ích chung.
Đại hội XIV tiếp tục đặt ra yêu cầu xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực tự đổi mới, tự hoàn thiện, kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, đồng thời củng cố mối quan hệ mật thiết giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân. Do đó, “kiên định các nguyên tắc” không đơn thuần là việc giữ nguyên một mô hình tổ chức, mà cốt lõi là bảo đảm quá trình đổi mới phương thức lãnh đạo và quản trị luôn vận hành trong khuôn khổ nguyên tắc, trách nhiệm và kiểm soát quyền lực chặt chẽ.
Tràm Xanh (QR)