11/08/2026
Thông tư 36/2026/TT-BKHCN
Ban hành 30/6/2026, hiệu lực từ 01/7/2026. Nội dung: ban hành Danh mục sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro trung bình và rủi ro cao thuộc trách nhiệm quản lý của Bộ KH&CN, kèm mã số HS phù hợp Danh mục hàng hóa XNK Việt Nam và yêu cầu quản lý chất lượng tương ứng. 
Điểm cốt lõi nhất: đây là bước chuyển từ cơ chế quản lý theo “hàng hóa nhóm 2” sang quản lý theo mức độ rủi ro,  đồng bộ với Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa sửa đổi.
Hai phụ lục, hai chế độ quản lý:
• Phụ lục I – rủi ro cao: kết quả thử nghiệm làm căn cứ chứng nhận hợp quy phải do tổ chức thử nghiệm được công nhận, được Bộ KH&CN chỉ định hoặc được thừa nhận thực hiện. 
• Phụ lục II – rủi ro trung bình: kết quả thử nghiệm làm căn cứ tự đánh giá hoặc chứng nhận hợp quy, cũng phải do tổ chức được công nhận/chỉ định/thừa nhận thực hiện. 
Bãi bỏ hàng loạt văn bản cũ kể từ 01/7/2026: TT 29/2025/TT-BKHCN (danh mục CNTT–viễn thông), TT 30/2011/TT-BTTTT cùng các bản sửa đổi 15/2018 và 10/2020, TTLT 58/2015/TTLT-BCT-BKHCN về quản lý chất lượng thép, và TT 01/2009/TT-BKHCN.  Với dân forwarder, đáng chú ý nhất là mảng thép nhập khẩu và thiết bị điện – điện tử – ICT.
Điều khoản chuyển tiếp (rất quan trọng khi làm hàng nhập):
• Giấy chứng nhận hợp quy và Thông báo tiếp nhận công bố hợp quy cấp trước 01/7/2026 vẫn có giá trị đến hết thời hạn ghi trên giấy. 
• Hồ sơ đăng ký chứng nhận hợp quy và hồ sơ đăng ký kiểm tra nhà nước về chất lượng hàng nhập khẩu đã tiếp nhận trước 01/7/2026 nhưng chưa giải quyết xong thì xử lý theo quy định tại thời điểm tiếp nhận. 
• Trong thời gian Cổng thông tin một cửa quốc gia được nâng cấp, doanh nghiệp đăng ký kiểm tra chất lượng hàng nhập khẩu trên Cổng Dịch vụ công quốc gia hoặc theo hướng dẫn của cơ quan kiểm tra; việc tiếp nhận và trả kết quả vẫn theo Nghị định 37/2026/NĐ-CP.
1. Rủi ro không nằm ở mã HS — nằm ở tiêu chuẩn sản xuất
Đây là khó khăn lớn nhất và mới hoàn toàn. Cùng mã 8544.49.41, lô hàng theo TCVN 6610/TCVN 5935-1 rơi vào Phụ lục I (kiểm tra nhà nước bắt buộc), lô không theo hai tiêu chuẩn đó rơi vào Phụ lục II (chỉ công bố hợp quy). Hải quan phân luồng theo mã HS; cơ quan KH&CN xét theo tiêu chuẩn. Khi hai bên hiểu khác nhau, lô hàng nằm bãi.
2. Nghẽn năng lực tổ chức chứng nhận
Phụ lục I yêu cầu tổ chức chứng nhận được chỉ định — phạm vi hẹp hơn hẳn “được công nhận” áp dụng cho Phụ lục II. Số tổ chức được chỉ định cho QCVN 4:2009 không nhiều, cầu tăng đột ngột từ 01/7 sẽ đẩy lead time thử nghiệm lên.
3. Kết quả thử nghiệm nước ngoài khó dùng lại
Thông tư đòi kết quả thử nghiệm từ tổ chức được công nhận, được chỉ định hoặc được thừa nhận theo pháp luật về tiêu chuẩn — kênh “thừa nhận” phụ thuộc thỏa thuận song phương, nên báo cáo test của nhà máy Trung Quốc/Đài Loan thường không được chấp nhận thẳng. Phải test lại tại Việt Nam.
4. Phương thức 7 giết margin hàng lô lẻ
Phương thức 7 là đánh giá theo từng lô: mỗi lô lấy mẫu, thử nghiệm, chờ kết quả. Với importer nhập nhỏ lẻ nhiều chủng loại, chi phí và thời gian lặp lại mỗi lô là gánh nặng thực sự.
5. Hạ tầng khai báo chưa đồng bộ
Cổng một cửa quốc gia đang được nâng cấp; giai đoạn này phải đăng ký qua Cổng Dịch vụ công quốc gia hoặc theo hướng dẫn cơ quan kiểm tra. Nghĩa là quy trình khác nhau giữa các địa phương, và người khai phải hỏi trước từng nơi.
6. Phân cấp về Sở KH&CN cấp tỉnh
Kiểm tra nhà nước hàng rủi ro cao (trừ xăng dầu, LPG) do cơ quan chuyên môn KH&CN cấp tỉnh thực hiện. Sau sáp nhập tỉnh thành, cách hiểu và tốc độ xử lý sẽ không đồng nhất giữa Cát Lái, Cái Mép và Hải Phòng.
7. Mất bộ văn bản quen thuộc
TT 01/2009/TT-BKHCN và TTLT 58/2015 (thép) bị bãi bỏ cùng lúc. Toàn bộ SOP nội bộ, checklist, mẫu hồ sơ của phòng chứng từ đều tham chiếu văn bản cũ. Nền pháp lý mới là NĐ 37/2026/NĐ-CP và TT 14/2026/TT-BKHCN về phương thức đánh giá sự phù hợp.
8. Mã HS dẫn chiếu theo TT 31/2022/TT-BTC
Nếu Danh mục hàng hóa XNK được thay thế, phải tự ánh xạ mã — Thông tư có quy định áp dụng văn bản thay thế, nhưng việc đối chiếu thuộc về doanh nghiệp.